Video Clips

Dự báo tình hình KTTV

Điện thoại đường dây nóng về hoạt động khoáng sản
Hệ thống Quan trắc tự động
Hoạt động Khoáng sản
Cơ sở dữ liệu Tài nguyên & Môi trường tỉnh Hà Nam
Trung tâm Công nghệ Thông tin Tài nguyên Môi trường
Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên Môi trường
Văn phòng Đăng ký đất đai

Thăm dò ý kiến

Nội dung nào của Website được quan tâm?

Tin tức - Sự kiên.

Văn bản chuyên ngành TNMT .

Bản đồ trực tuyến

Phổ biến kiến thức pháp luật

Các thông tin khác

Thống kê

ao khoac nu Đang truy cập : 42

Máy chủ tìm kiếm : 3

Khách viếng thăm : 39


thời trang công sở Hôm nay : 3154

ao so mi nu Tháng hiện tại : 64462

1 Tổng lượt truy cập : 6610547

Bản đồ

1 1 1 1

Trang nhất » Tin Tức » Môi trường

.

Giải pháp giảm tác động xấu từ ô nhiễm môi trường nông thôn

Thứ tư - 08/11/2017 10:24
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở nước ta hiện nay đã và đang trở thành một xu thế phát triển tất yếu, bên cạnh sự chuyển biến tích cực về kinh tế thì trong thời gian qua, lượng chất thải rắn khu vực nông thôn ngày càng gia tăng.

Tình hình phát sinh, thu gom, xử lý
Năm 2016, lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ở các vùng nông thôn trong cả nước vào khoảng 32.000 tấn/ngày. Lượng chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nông thôn tuy đã được thu gom, xử lý tăng dần theo các năm nhưng tỷ lệ thu gom còn thấp, trung bình đạt khoảng 40-55% so với lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh; nhiều địa phương chưa tổ chức lực lượng thu gom hoặc có đơn vị thu gom nhưng chưa đáp ứng được các yêu cầu bảo vệ môi trường dẫn đến môi trường tại một số khu vực nông thôn đang có dấu hiệu ô nhiễm. Bên cạnh đó, các hoạt động nông nghiệp cùng với những hoạt động dịch vụ, sinh hoạt đã xuất hiện tình trạng ô nhiễm môi trường có tính chất nghiêm trọng ở khu vực nông thôn nước ta. Nguyên nhân là do tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ. Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn. Ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do không có công trình và thiết bị xử lý chất thải. Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, các nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi trường nước và sức khỏe nhân dân. Do nuôi trồng thủy sản ồ ạt, thiếu quy hoạch, không tuân theo quy trình kỹ thuật nên đã gây nhiều tác động tiêu cực tới môi trường nước. Cùng với việc sử dụng nhiều và không đúng cách các loại hóa chất trong nuôi trồng thủy sản khiến các thức ăn thừa lắng xuống đáy ao, hồ, lòng sông làm cho môi trường nước bị ô nhiễm các chất hữu cơ, làm phát triển một số loài sinh vật gây bệnh và xuất hiện một số tảo độc; thậm chí đã có dấu hiệu xuất hiện thủy triều đỏ ở một số vùng ven biển Việt Nam.
Nhận thức của công dân và cộng đồng đang sống và làm việc tại các khu vực nông thôn về vấn đề môi trường còn chưa cao. Người dân nông thôn chưa có ý thức BVMT. Việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất; việc xả nước, rác thải; sử dụng nước không đảm bảo vệ sinh, việc đầu tư các công trình phục vụ đời sống và sức khỏe (bể nước, cống rãnh thoát nước, hố xí...), việc tham gia công tác vệ sinh môi trường cộng đồng… còn hạn chế. Đặc biệt, trong hoạt động quản lý, BVMT còn nhiều bất cập. Nhận thức của nhiều cấp chính quyền, cơ quan quản lý, tổ chức cá nhân có trách nhiệm về nhiệm vụ BVMT chưa đầy đủ, chưa thấy rõ được nguy cơ ô nhiễm môi trường khu vực nông thôn sẽ có tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế - xã hội nông thôn, trong đó có sức khỏe người dân. Đội ngũ cán bộ quản lý môi trường còn ít về số lượng, bất cập về chất lượng. Hiện nay Việt Nam mới chỉ có gần 30 cán bộ quản lý môi trường/1 triệu dân so sánh với một số nước trong khối ASEAN là 70 người/1 triệu dân.
Cơ sở pháp lý, ngân sách đầu tư cho BVMT nước còn quá ít thể hiện nhiều bất cập. Vấn đề đầu tư cho công tác BVMT chưa đáp ứng được yêu cầu, còn dàn trải và thiếu hiệu quả. Cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơ quan, các ngành và địa phương chưa đồng bộ, còn chồng chéo, chưa quy định trách nhiệm rõ ràng…
 
Một số kết quả
Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, trong thời gian vừa qua Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các đơn vị liên quan tham mưu, trình Chính phủ ban hành hoặc đã ban hành theo thẩm quyền các quy định về quản lý chất thải rắn sinh hoạt nhằm quản lý chặt chẽ hơn các hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt (Tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 về quản lý chất thải và phế liệu; xây dựng và ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải bãi chôn lấp chất thải rắn - QCVN 25 :2009/BTNMT; xây dựng và ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt chất thải rắn sinh hoạt - QCVN 61-MT: 2016/BTNMT….); đã triển khai thử nghiệm mô hình thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn; đã tổ chức các hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức của người dân; đào tạo và tổ chức các khoá tập huấn cho doanh nghiệp về sản xuất sạch hơn, hoạt động giảm thiểu phát sinh chất thải rắn; quy trình thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế chất thải rắn theo đúng các quy định của pháp luật. UBND cấp tỉnh đã ban hành quy hoạch quản lý chất thải rắn, quy định cụ thể về quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn cho phù hợp với thực tế của địa phương. Tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn tại các khu vực nông thôn tăng dần theo các năm. Nhiều địa phương đã triển khai thu hút đầu tư cơ sở xử lý chất rắn sinh hoạt; các cơ sở thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn đã bắt đầu thực hiện nghiêm các yêu cầu bảo vệ môi trường trong quá trình hoạt động.
 
Khó khăn, bất cập trong quản lý rác thải nông thôn
Trước hết, đó là việc lập và triển khai quy hoạch quản lý chất thải rắn chưa phù hợp, khó triển khai trong thực tế; một số điểm tập kết, trung chuyển chất thải rắn chưa phù hợp, chưa đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường.
Bên cạnh đó, mô hình thu gom, quản lý, vận hành cơ sở thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn khu vực nông thôn còn nhiều bất cập; thiếu chính sách phù hợp thúc đẩy xã hội hoá thu gom, xử lý chất thải nông thôn. Hiện nay, chưa có địa phương nào có mô hình xử lý chất thải rắn sinh hoạt hoàn thiện đạt được cả các tiêu chí về kỹ thuật, kinh tế, xã hội và môi trường.
Quản lý chất thải rắn sinh hoạt đối với Trung ương còn sự cắt đoạn, chia lẻ trong quản lý giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Xây dựng. Đối với quản lý chất thải rắn sinh hoạt nông thôn tại địa phương chưa rõ ràng, còn có sự chồng chéo trong phân công thực hiện công tác quản lý chất thải; có nơi do Sở Xây dựng quản lý, hoặc Sở TN&MT quản lý, nơi lại do Sở NN&PTNT chịu trách nhiệm.
Đầu tư cho quản lý, xử lý chất thải rắn và hoạt động xã hội hoá cho việc xử lý chất thải sinh hoạt nông thôn còn nhiều bất cập; nguồn kinh phí đầu tư chủ yếu từ ngân sách nhà nước trong khi mức phí thu gom, xử lý chất thải rắn còn tương đối thấp mặc dù hiện nay mặc dù đã chuyển sang cơ chế giá nhưng thực tiễn vẫn chưa đáp ứng được,vì vậy chưa thúc đẩy được công tác xã hội hoá trong lĩnh vực thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn.
Thực tế hiện nay cho thấy công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt chưa đồng bộ, hiện đại, chủ yếu là công nghệ chôn lấp (chiếm tới 75%) và một số ít cơ sở xử lý chất thải sử dụng công nghệ sản xuất phân mùn hữu cơ, công nghệ đốt và các nghệ tái chế khác. Một số công nghệ mới được nghiên cứu và áp dụng trong nước đáp ứng được tiêu chí hạn chế chôn lấp nhưng việc hoàn thiện công nghệ và triển khai nhân rộng còn gặp nhiều khó khăn do vốn đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân còn hạn chế; tính đồng bộ, hiện đại, mức độ tự động hóa của hệ thống thiết bị trong dây chuyền công nghệ chưa cao; các công nghệ xử lý chất thải rắn chưa được sản xuất ở quy mô công nghiệp.
Đặc biệt, đó là nhận thức của người dân trong thu gom, phân loại, xử lý cũng hạn chế. Chất thải chưa được phân loại, tận dụng phần có ích để tái chế. Nhiều nơi, người dân chưa tích cực tham gia vào các hoạt động thu gom, vận chuyển CTR, chưa đóng phí dịch vụ đầy đủ.
 
Cần thực hiện các giải pháp giảm thiểu những tác động xấu từ ô nhiễm môi trường đến sức khỏe nguồn nhân lực tại các vùng bị ô nhiễm
Một là, cần phải có các kế hoạch và biện pháp đánh giá toàn diện về thực trạng ô nhiễm môi trường tại các khu vực nông thôn nước ta hiện nay. Tuy nhiên, do đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội tại mỗi địa phương khác nhau nên mức độ ô nhiễm môi trường khác nhau nên do vậy cần phải lập được bản đồ về ô nhiễm môi trường tại các khu vực nông thôn, qua đó xác định các vùng ô nhiễm trọng tâm, trọng điểm để từng bước đề ra các biện pháp khắc phục phù hợp.
Hai là, chú trọng công tác quy hoạch phát triển các khu, cụm, điểm công nghiệp, các làng nghề tại các khu vực nông thôn, đảm bảo tính khoa học cao, trên cơ sở tính toán kỹ lưỡng, toàn diện các xu thế phát triển, từ đó có chính sách phù hợp; tránh tình trạng quy hoạch tràn lan, thiếu đồng bộ, chồng chéo. Đối với các khu công nghiệp đang đóng trên các địa bàn nông thôn hiện nay cần có quy định bắt buộc các công ty đầu tư hạ tầng phải xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung hoàn chỉnh mới được phép hoạt động, đồng thời thường xuyên có báo cáo định kỳ về hoạt động xử lý nước thải, rác thải tại đó.
Ba là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về BVMT, trong đó những chế tài xử phạt (cưỡng chế hành chính và xử lý hình sự) phải thực sự đủ mạnh để đủ sức răn đe các đối tượng vi phạm. Về lâu dài, cần ban hành và thể chế hóa các luật lệ có liên quan đến công tác BVMT tại các khu vực nông thôn, tiến tới xây dựng bộ luật riêng về lĩnh vực này.
 Bốn là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về môi trường trong toàn xã hội nhằm tạo sự chuyển biến và nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật BVMT, trách nhiệm xã hội của người dân, doanh nghiệp trong việc gìn giữ và BVMT; xây dựng ý thức sinh thái, làm cho mọi người nhận thức một cách tự giác về vị trí, vai trò, mối quan hệ mật thiết giữa tự nhiên - con người - xã hội. Đi đôi với công tác tuyên truyền, giáo dục cần tăng cường hơn nữa vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước về vấn đề này trên các địa bàn nông thôn, như các cấp chính quyền địa phương, các cơ quan quản lý và BVMT, các cơ sở y tế, các tổ chức đoàn thể có liên quan để đảm bảo cho công tác tuyên truyền, giáo dục và thực thi các biện pháp BVMT, bảo vệ và nâng cao sức khỏe, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn có hiệu quả hơn.
Năm là, đẩy mạnh xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển và vận hành cơ sở xử lý chất thải rắn; tăng dần nguồn thu phí vệ sinh, giảm dần hỗ trợ từ ngân sách cho hoạt động thu gom, vận chuyển chất thải rắn; có giải pháp cụ thể thu hút các thành phần kinh tế tư nhân trong và ngoài nước tham gia đầu tư xây dựng và trực tiếp quản lý, khai thác, vận hành dự án tái chế, thu hồi năng lượng từ xử lý chất thải rắn; đẩy mạnh hợp tác công – tư (PPP) trong lĩnh vực xử lý, tái chế chất thải rắn; đẩy mạnh triển khai các mô hình điểm về tái chế, tài sử dụng, thu hồi năng lượng từ xử lý chất thải rắn.

Nguồn tin: Theo monre.gov.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Liên kết website

Số điện thoại đường dây nóng về đất đai
Bộ Tài nguyên và Môi trường
Công báo Hà Nam
Cổng thông tin điện tử tỉnh Hà Nam
Cục Công nghệ thông tin
Cục đo đạc bản đồ
Cục bảo vệ môi trường

Bản đồ trực tuyến

Bản đồ trực tuyến
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Giá đất
Lịch công tác Ủy Ban nhân dân tỉnh
Thư điện tử
Danh bạ thư điện tử
Dịch vụ công trực tuyến tỉnh Hà Nam
Đấu giá QSDD của sở Tư pháp

Dong phuc nhom giàn phơi thông minh bảo trì công nghiệp nồi hơi điện Chung cư Sunrise City Lê Văn Lương chung cư thương mại Dự án chung cư Đồng Phát Park View Vinhomes Riverside Hải Phòng Vinhomes metropolis Liễu Giai Dự án Vinhomes In dong phuc May lam da Máy làm đá tuyết may lam da song chắn rác cho thuê xe tải xây nhà hà nội ống nhựa gân xoắn hdpe